1.
Thằng tà lọt nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn thì câu chuyện kể của ông khách lạ hiểu sao cho đặng. Ổng kể mình nghe. Đúng sai sao ai biết. Giờ tui hỏi mấy bà biết Châu Long Sa ở đâu không?
Nhưng, ông khách lạ biết. Ổng chặn đường thằng tà lọt một tối chướng non vỗ ràn rạt lên khắp châu thổ. Gió liêu xiêu rũ mấy cái cờ treo trước cổng chợ đèn dầu. Gió mơn man lên da thịt thằng con trai vừa tròn hai mươi, mặt sạm nắng đồng, vai u chân phèn, những cơn rờn rợn. Gió hất lòa xòa sợi tóc trắng ụp vào mặt ông khách lạ. Gió phần phật làm méo mó giọng trầm khàn. Ổng mặc bộ đồ tây, lừng khừng rồi chỉ về hướng ngã tư sương đêm hỏi, “trong đó còn cái nhà sát rạch chuyên làm nghề chấm mắt ghe không chú em? Mà cái đường này mình đi thẳng là ra Cái Rơn, về Kiến An Cung hen? Qua à… ừ qua người Châu Long Sa, hồi đó qua ở đây nè, chỗ lữ quán An Thành.”
Sau cái cụm từ “đây nè” phát ra bằng âm giọng lơ lớ nửa ta nửa Tây thì ngón tay ổng chỉ về hướng trung tâm, ánh đèn xanh đỏ dập dìu xe cộ. Ủa ngoài đó là thành phố Cao Lãnh mà chèn! Thằng tà lọt quíu người ờ một tiếng rồi đẩy xe nước thiệt lẹ chạy vô chợ. Trời thần, mười một giờ đêm còn dọn sạp, rửa đường mà gặp ông nội này nói gì lùng bùng lỗ tai vậy trời. Nhưng, khi tà lọt vừa lấy cây chổi quét mớ nước trước sạp hàng anh út Trong ca sĩ, miệng nó vừa kể thiệt to chuyện ông khách lạ, đầu nó hướng về phía cổng chợ thì đã không thấy ông tóc trắng nào hết. Vài ba chủ sạp lắng tai nghe, mắt hướng về phía đó, rồi miệng dõng lên chửi. “Đồ khùng, bà nội cha mày, ai đâu? Nửa đêm nửa hôm mà nói chuyện tào lao.”
Ủa rồi ổng đâu ta? Câu hỏi theo thằng tà lọt miên man trong giấc ngủ muộn. Chướng non nhưng lạnh nổi da gà thằng nhỏ.
2.
Mười bốn tuổi, tà lọt làm thằng vé số. Mười sáu tuổi nó kiêm thêm thằng ve chai. Chạy bán chỗ nào cũng vác theo cái bao nho nhỏ lụm lon, lụm chai. Ai cho gì lấy nấy. Năm nó mười tám tuổi, người ta mở cái chợ theo đề án xây dựng khu phố ẩm thực đêm, khôi phục lại cái chợ đèn dầu của thời xa xưa. Bữa lang thang lụm ve chai trong chợ, nó gặp anh út Trong ngồi ngay cái sạp đờn ca tài tử phục vụ khách đến chợ ăn chơi. Tà lọt chẳng biết vì sao anh út Trong thương nó quá chừng. Trong đám đen đúa ngồi hóng mỏ lên nghe hát mỗi mình nó là không bao giờ chạy tới xin chụp hình. Nó cũng là đứa coi chùa nhiều nhất, đều đặn mỗi cuối tuần, nhưng chưa bao giờ lên bông cho nhóm đờn ca tài tử. Tan hát nó lầm lũi vác cái bao đi lụm ve chai rồi đi sâu về cuối chợ, leo lên chiếc ghe nhỏ nổ máy lạch bạch chạy về rạch Mông Lung. Khúc rạch nằm sâu trong vàm co nghèo nàn. Mấy bận như vậy trôi qua mắt út Trong cho đến hôm có đám xăm mình từ đâu kéo đến chợ trong cơn say chạy lên chiếu hát, giật cái mi-cờ-rô đòi hát. Thì mấy ông thầy đờn, mấy người nghệ sĩ quýnh quáng chạy, thiên hạ cũng chạy. Mỗi thằng tà lọt ngồi yên, giương mắt ngó. Đám say rượu được thể đá loa, đập đàn. Chợ đêm lộn xộn tiếng chửi, tiếng la. Trong hỗn độn thanh âm đó, bất giác có tiếng gào to “chạy đi công an tới kìa”. Thân ảnh cao to của tà lọt nhảy vào đám say rượu nắm tay kéo chạy. Chạy trối chết.
Quãng tiếng sau thấy nó ướt nhem quay về sạp đờn ca tài tử. Thiên hạ chợ đêm bu quanh nó, hỏi “thằng ve chai, công an hồi nào mạy? Tự dưng la làng tán loạn lên à!” Thằng tà lọt cười khùng khục. “Ủa rồi hổng giả bộ la vậy sao dụ đám say rượu phá chợ bỏ chạy? Tui lôi tụi nó chạy về mé rạch. Tụi nó vừa say lại vừa sợ. Tui nhảy xuống kêu bơi qua rạch trốn. Tụi nó nhảy theo đùng đùng. Bơi nửa đường, tui bơi ngược về, núp bên này nghe ngóng coi tụi nó bỏ đi hết chưa. Chừng êm tui chạy về đây nè. Rồi nãy giờ ai thấy bịch ve chai của tui đâu hông?” Chủ sạp được phen cười rân trời. Ai nói thằng ve chai khùng đâu trời. Nó khôn thí mồ. Dụ đám giang hồ đi còn nhớ quay lại tìm bịch ve chai. Nhưng, ngó tới ngó lui không thấy bịch ve chai đâu. Chỉ thấy đờn, loa xiêu vẹo, chiếu rách tanh bành. Cái sạp đờn ca tài tử như vừa qua cơn phong ba tơi bời. Thằng tà lọt ngó mấy ông thầy đờn đang đứng lóng ngóng dọn dẹp, nó chạy tới phụ. “Coi như tui trả công tui nghe chùa bữa giờ. Tại tui hông có tiền nên hổng có lên bông thưởng lúc mấy ông xuống xề nhen. Mấy ông hát hay nhức nách luôn đó trời. Hát hay hơn mấy cái giọng phát trong la-dô ngoại tui hay nghe.”
Thằng tà lọt nhanh tay, lẹ chân, gom gọn đồ, bưng bê đâu vô đó hết trơn. Thiên hạ chợ đêm nhìn xong ưng bụng quá chừng. Khuya khoắt bán xong mà có thằng dọn sạp nhanh gọn kiểu này cũng đỡ. Vậy là từ cái sạp đờn ca tài tử, tà lọt nhận thêm vài sạp nữa. Chiều tầm năm giờ chạy ra nhà kho, lấy bàn ghế của từng sạp để lên chiếc xe rùa đẩy về chợ, sắp xếp đâu vô đó cho từng sạp mối. Tối chạy ra chỗ nhà vệ sinh hứng mỗi sạp hai thùng nước để dọn rửa cuối ngày. Thoảng khi mấy cô đang bán mà cần nó chạy hàng cũng đứng giữa chợ la lớn tên nó. Tức khắc nó rẽ đám đông chạy về chủ sạp vừa kêu mình. Nó chạy tất tần tật hàng. Từ châm nước ngọt, chạy bao đá, cho tới rửa chén, giao hàng. Rảnh tay thì chạy qua sạp đờn ca tài tử coi hát.
Nhưng, trong mấy cái sạp nó dọn thì sạp đờn ca tài tử là nó dọn trễ nhất dù chiếu hát mười giờ đêm đã nghỉ.

3.
Trong cơn thấp thỏm âu lo, thằng tà lọt chạy tới chạy lui ngóng ra phía rạch Mông Lung. Bây giờ bảy giờ tối rồi, sao cha già Cái Rơn chưa tới. Chả mê cải lương muốn chết, chả thèm vọng cổ hơn thèm gái. Ngay cái lúc mong chờ ổng nhất thì ổng không xuất hiện. Mấy bận chiều mưa dầm dề, vậy mà ổng cũng ráng xuôi ghe từ Cái Rơn qua đây để chờ nghe. Ổng là khách mối lạ lùng nhất chợ. Ai đời từ Sa Đéc lại bỏ cả buổi trời chạy ghe qua Cao Lãnh để nghe hát chợ. Nghe đêm thứ Bảy xong, ổng bỏ ghe lại rạch, đi về phía ngã tư sương đêm rồi mất hút. Chừng chiều tối Chủ Nhật lại thấy ổng ngồi ngay ngắn bên dưới ngó lên chiếu hát. Chừng đến vãn hát mới lót tót đi về rạch Mông Lung, nổ máy ghe ngược lại Cái Rơn.
Thiên hạ chợ đêm túm tụm lại xì xào ổng ghé nhà bà chấm mắt ghe. Con mẹ nổi tiếng treo đèn trước cửa. Chấm mắt ghe là phụ, dụ đàn ông mới là chính. Mấy đứa con ra đời èo uột rồi cũng quặt quẹo chết. Mỗi út Trong là sống. Cũng đâu ai biết cha út Trong. Thiên hạ đồn bả cặp thằng cha nào đó làm bên nhà đèn hồi năm bảy lăm. Sau giải phóng thì chả bị đi cải tạo. Rồi mất hút. Cũng có người nói bả lấy Mỹ, thằng lính phi công bỏ bả, bay từ sân bay Cần Thơ ra thẳng chiến hạm ở biển Đông. Năm đó bả mười tám, đẹp nhất xứ này. Rồi ai đó nói bậy bạ hết sức. Bả làm giao liên mấy mẹ ơi. Sau bị tụi giặc phát hiện nó bắt. Nó hiếp xong đày ra tận Côn Đảo. Ngày bả về xác xơ như tàu lá chuối. Bả cũng có chồng. Mà tại thời tù tội tra tấn đến nỗi con bả đẻ ra èo uột chết trẻ hết ba đứa. Chồng bả mới bỏ đi. Bả đẻ thằng út Trong lúc đã đi qua bốn mươi tuổi đời. Nghe đâu với ông thương lái người Phúc Kiến từ Sa Đéc qua đặt chấm mắt ghe. Ngặt nỗi ổng còn bà vợ lớn. Nên bà này lủi thủi nuôi con. Thằng út Trong lai người Hoa nên da trắng, mũi cao, mắt một mí thấy không?
Chẳng biết đúng hay sai, nhưng lời đồn luôn khiến thiên hạ tin sái cổ. Tin đến độ chủ sạp mướn tà lọt dọn chợ cũng có lần hỏi tà lọt biết cha của út Trong hông? Tà lọt lắc đầu không nói. Biết gì đâu mà nói. Nó chỉ biết anh út Trong hiền khô. Sáng đi dạy trên trường tiểu học. Tối về đi hát đờn ca tài tử. Vậy thôi à. Cũng có những hôm kỳ yên đình, miễu anh đi hát, bỏ chiếu đờn ca ở chợ đèn dầu hiu hắt. Thiếu giọng ca anh, nên dù cuối tuần thì lòng thằng tà lọt cũng buồn hiu. Nhưng có một điều nó biết, nó khẽ thầm thì với bà chủ sạp mướn mình. Nghe nói cô Tẻ, má anh út Trong đã thôi không còn chấm mắt ghe cho giới thương hồ nữa rồi. Chuyện này nó mới nghe út Trong nói hồi tuần trước.
Chủ sạp chưng hửng. “Trời thần, bả nức tiếng Cửu Long cái nghề chấm mắt ghe mà mạy! Nói giỡn chơi. Bả nghỉ thì ai chấm cho ghe xuôi ngược xứ này? Người ta nói cha bả thủ từ đâu cái chùa linh lắm ở bên Sa Đéc. Chùa trăm năm rồi. Hồi chiến tranh bom rơi đạn lạc mà cái chùa vẫn đứng hiên ngang sừng sững chẳng mảy may trúng phát đạn nào, cũng không bị giội miếng bom nào luôn. Còn năm Thìn cả tỉnh ngập lút đầu. Nước từ sông cái đổ vô các con kinh cao tới mái nhà. Ngộ là tới cái chùa tự dưng nước lài lài rồi liếm ngay cổng chứ chẳng dám vào trong. Nghe nói cha bà chấm mắt ghe là được trời khai thiên nhãn, cho ổng cái nghề với bài chú gì đó. Trong chục đứa con chỉ mỗi bả là hợp bát tự để ổng truyền nghề. Có dạo cả Cửu Long xếp hàng rồng rắn thỉnh bả đi chấm mắt ghe nghen.”
Thằng tà lọt nghe xong đứng trân ngẫm nghĩ. Ủa, nếu vậy bả giàu quá trời mắc gì bả làm nghề ăn sương, bả treo đèn trước nhà? Bà chủ sạp nghe nó hỏi cắc cớ thì phe phẩy cái tay rồi cười nhếch mép. “Mày trai tân thì biết gì về gái gú. Đàn bà cũng lắm loại đàn bà. Làm đĩ cũng trăm đường làm đĩ. Cũng có loại làm vì đam mê.” Thằng tà lọt thấy người mình nóng ran, như có luồng máu chảy lòng vòng thiệt nhanh lên đầu mình. Nó không trả lời bà chủ sạp. Nó đẩy cái xe rùa qua chiếu hát. Bận đó nó thấy lòng mình buồn khó tả. Buồn như chính nó cũng chưa bao giờ biết cha mình là ai. Chỉ loáng thoáng nghe ngoại nói cha nó biền biệt sau công trình điện 500 bắt qua châu thổ này. Hỏi má nó đâu thì ngoại cũng ngắc ngứ. Xa lắm, chừng nào đủ duyên thì gặp. Đến má con mà còn phải chờ đủ duyên thì hèn chi châu thổ này mấy đứa con nít bán vé số quá trời. Mấy ông bà già lụm ve chai cũng nhiều không kém.
Hình như lâu lắm rồi tà lọt cũng quên mất câu hỏi thân phận chính mình. Hỏi làm chi? Ngộ lỡ người ta cũng nói má nó như má anh út Trong. Hay người ta xòe bàn tay ra đếm ba nó như đếm ba anh út Trong. Nghĩ tới cái đoạn này nó thôi không ham biết cha biết má. Biết ngoại cụt chân, bán vé số, hay ôm cái vết thương sát háng rên hừ hừ mỗi mùa chướng về đã là quá xót xa lòng nó rồi.
4.
Thằng tà lọt nhất quyết nó hổng gặp ma. Chân ổng chấm đất, người ổng không phát quang xanh, giọng ổng rất rõ, ổng nói chắc như bắp. Ổng không phải ma. Nếu là ma sao tui gặp tới hai lần. Bữa nè, ngay cầu Đúc, ổng đứng nhìn dòng Cao Lãnh chia hai bờ nam bắc. Tui chạy từ hướng thành phố về ngang thấy cái hết hồn. Tui tưởng ai thua cá độ đá banh, hay thua đề tính nhảy cầu, tui lật đật tắp xe vô tui la rân trời. Chưa kịp dứt lời ổng quay lại. “Qua chào chú em, ngộ kỳ duyên quá lị.” Tui nghĩ chắc ổng già rồi ổng bị lẩn thẩn. Ổng lạc đường lạc xá, lạc nhà lạc xứ nên tui hỏi ổng ở đâu, tui chở về, nhớ số điện thoại nhà mình hông, hay là nhớ khúc nào tả tui nghe, tui rành đất này sáu câu. Tui đẻ ở đây mà nên đừng có lo.
Ổng biểu tui lững thững đi theo ổng xuống ngay chân cầu, lòn vô dạ cầu ngồi quán nước mía, ổng chỉ phía thành phố khăng khăng nhà ổng ở đó. Chỉ là giờ người ta tịch thu xây cái trường học to đùng. Ổng kể chuyện lữ quán. Ổng gọi ba chữ Châu Long Sa. Ổng khóc cho cái bà nào phía bến Tầm Dương, ổng kêu tui biết rượu Hoàng Hoa bán đâu không? Hồi đó chỉ có Kiến An Cung mới ủ được rượu Hoàng Hoa. Thứ rượu được ủ bằng hoa vàng hứng nắng của sân Thiên Tỉnh nằm giữa chính cung mới cho ra vị thơm nồng nàn quyến dụ. Rượu say nhưng đầu mình tỉnh rụi. Ngủ một giấc dậy là cơ thể khỏe mạnh phi thường. Trái gió trở trời người yếu nhấp ba hớp rượu là ấm bụng dạ, xương khớp cứng cáp. Thứ rượu mà hồi đó trước khi cha ổng đi thuyền lớn nhấp bảy ngụm. Nhấp vậy mà cha ổng đi biền biệt không về. Chỉ duy nhất lần đó, rượu Hoàng Hoa không còn linh nghiệm như lời thiên hạ đồn thổi.
Nhưng, hồi ổng nhảy thuyền đi vượt biên ổng cũng nhấp bảy ly rượu Hoàng Hoa, dẫu chẳng biết đường về của mình sẽ ra sao. Hơn bốn chục năm rồi, ổng cứ mơ hoài giấc mơ giữa sân chầu Thiên Tỉnh, một bình rượu vỡ nát, dòng nước vàng thấm vào đất, nắng chiếu xuống khiến từng giọt bay lơ lửng không trung. Chưa kịp thấy nước bay về đâu thì ổng đã giật mình tỉnh giấc. Đó là những đêm tuyết trắng xứ người. Ổng nhẩm tính còn một tháng nữa là mùa sum vầy ở cố hương. Thường sau giấc mơ đó, ổng thức trọn đêm. Ra mảnh vườn nhà trồng mấy cây khế, pha ly cà phê, ngó về hướng tây mà thon thót lòng.
Tà lọt chắc nịch lời mình kể, nó hẹn ổng tối nay tới đây, ngay cái chiếu hát này, chắc chắn có người biết chuyện xứ này kể ổng nghe. Nhưng nay mưa dầm dề hổng ai tới chợ. Ai kể? Ai nghe? Mấy chủ sạp trề môi theo câu chuyện của thằng tà lọt.
Tiếng tà lọt vang đều đều theo tiếng mưa. Mưa quất vào lòng châu thổ những cơn tê tái. Hay mưa quất vào lòng út Trong những cơn âu sầu. Út Trong đứng dậy, đi giữa màn mưa về phía rạch Mông Lung. Thằng tà lọt chạy vội theo gọi í ới. Đêm đó chiếc ghe nhỏ neo ở vàm sông đầy ắp co mùa tròn củ. Đầu mũi ghe, út Trong cứ dầm mưa ngồi ngó ra khoảng sóng nước đen ngòm. Phía sau lưng, thằng tà lọt cũng ngồi im re. Mưa ướt chèm nhẹp. Mưa xoáy vào lòng út Trong muôn ngàn câu hỏi của chiều đó. Mưa cũng rụng vào lòng tà lọt trăm nỗi hoang mang của đêm này. Ai đặt tên cho rạch mà sao nó ứng vào phần số người xứ này quá đỗi?
5.
Nếu được chọn lựa không ai bỏ nguồn cội của mình đâu. Cũng chẳng ai muốn làm kẻ thứ ba để mong cầu một hạnh phúc thừa thãi. Càng không ai muốn đời mình phải đi qua cuộc chiến để nhận về phần số khuyết khuyết. Và dĩ nhiên, chẳng ai muốn phong kín đời mình ở một nơi trăm năm cô tịch. Tiếng người thủ thỉ chừng rất khẽ nhưng vẫn vọng vang trong một chiều mưa châu thổ. Cuối mùa, mưa không còn vần vũ nhưng cũng đủ ướt mềm lòng người ta.
Ông khách lạ men theo ngã tư sương đêm mà tìm về cái nhà treo đèn. Chục năm rồi, biến thiên thời cuộc cũng không làm cô gái năm xưa thôi nét mặn mà. Ngọn đèn treo trước nhà cũng cũ kỹ bàng bạc một nỗi niềm. Út Trong tin chắc đó là ông khách lạ mà tà lọt kể. Ông già tóc bạc nói giọng lơ lớ. Chỉ có út Trong chưng hửng, nhưng má của nó thì nhìn thoáng qua đã nhận cố nhân. Cái bớt đỏ trên gò má của người đó thì làm sao quên được.
Út Trong lui vào nhà trong, sửa soạn chạy ra chợ cho đêm diễn. Ngồi trước gương mà bần thần lòng dạ, đầu minh mông câu hỏi. Chưa kịp định thần đã nghe giọng ông già Cái Rơn, cùng tiếng nạn gỗ gõ đều lên đất. Trống tim út Trong đập dữ dội. Lâu lắm rồi má mới tiếp khách ở nhà. Nhất là những buổi chiều hôm lại là hiếm thấy. Chỉ hằng tuần đều đặn, ông già Cái Rơn sau khi xem hát thì về ghé ngang ngủ nhờ. Hai năm rồi vẫn vậy. Má nói ổng là ân nhân của một thời tao loạn. Không có ổng cưu mang chắc hai má con út Trong bỏ xứ. Nhưng, ổng dặn đừng nói ai nghe. “Ngộ từ Cái Rơn qua đây thiệt tình là thương cô Tẻ. Thương như thể một người hổng thương ngộ. Lị đừng nghe người ta gièm pha. Ngộ với má lị là trong sáng. Bảy chục tuổi hết rồi, còn gì đâu mà yêu với đương, chỉ là chút nghĩa cũ càng của đồng đội còn sót lại.” Mấy bận đó út Trong cũng không thắc mắc gì. Chỉ biết má quý ông Cái Rơn. Và ông Cái Rơn cũng chỉ ngủ ngoài bộ ngựa nhà trước, chưa một lần mon men về căn buồng bên trong.
Nhưng ông tóc bạc. Ông là ai? Còn ông ngoại tà lọt sao lại có mặt trong căn nhà này? Út Trong chưa kịp tìm lời giải đáp thì đã nghe tiếng má vọng trước cửa buồng nhắc út Trong chạy ra chợ cho kịp buổi diễn. Mưa gió thì cũng đúng giờ. Một người cũng phải hát. Người ta cho mình dù chỉ một đồng cũng là lòng người ta mến mộ tiếng đờn giọng ca. Vậy nên, chiều nào đi diễn má cũng canh giờ nhắc út Trong. Mà mình hát không phải vì tiền đâu nghen con. Người hát vì tình mà hát. Người nghe vì tình mà nghe. Chữ tình đó không bao nhiêu tiền mà mua nổi.
Út Trong đi ra nhà ngoài, gật đầu chào rồi nổ máy xe chạy ra khuất bóng. Chiếc đèn dầu ngoài hiên nhà tắt. Má lại đóng cửa như bao bận.
6.
Bây giờ đã là tháng Mười Hai, nắng mai non theo chướng dặt dìu lên khắp miệt đồng bưng. Kiến An Cung cúng tạ lễ khởi công trùng tu bến Tầm Dương. Thiên hạ nô nức đến từ sớm. Đám đông bu đen nghịt ngay chỗ bà chấm mắt ghe làm lễ tế ghe tống quái. Lòng ghe đựng toàn lễ vật muối gạo, cùng sớ cầu của bà con lối xóm nguyện ước xui rủi năm này theo ghe mà trôi ra sông cái, rồi ra biển cả. Bà chấm mắt ghe đúng giờ hoàng đạo, bày mười hai cây cọ ra rồi khấn thần sông rửa cọ. Cọ được nhúng xuống dòng Cái Rơn cho ngậm nước nở lông. Đoạn bà pha màu rồi bắt đầu những nét vẽ. Mắt ghe dần hiện lên. Viền mắt xanh đậm. Lòng mắt đỏ au. Chấm mắt đen tuyền. Mười hai nét vẽ là ra một con mắt. Dù đã bảy mươi tuổi nhưng đôi tay bà vẫn lả lướt. Hai cặp mắt ghe xong là tới phần điểm nhãn cho ghe thuận nước mà tới. Trong khói hương trầm bay bổng. Câu khấn lầm rầm chẳng ai nghe thấy. Nhưng nét mặt ai cũng nghiêm trang thành kính. Nhưng, lời khấn của bà chấm mắt ghe có khi như hát, có lúc như khóc. Thiên hạ nói khắp Cửu Long mỗi ghe của bả chấm mắt là sau bài khấn nhìn lại mắt ghe bỗng như mắt người. Lung linh. Sinh động. Ghe cũng có hồn. Hồn ghe như hồn người. Nhìn vào mắt là biết. Chỉ cần bả chấm mắt ghe, là chủ làm ăn phát đạt, buôn may bán đắt. Gặp sóng to gió lớn ghe vẫn không chìm. Gặp bọn gian thương trộm cướp ghe sẽ hất mũi ba cái. Gặp người thiện lành đức độ ghe sẽ cúi đầu ba cái. Chẳng biết đúng sai, nhưng lời đồn nhanh hơn gió, mạnh hơn bão, và dễ khiến người ta tin hơn bất cứ lời nói chân thật nào trên đời này. Dân thương hồ cứ thế mà tìm đến. Bà chấm mắt ghe dứt câu khấn, tung mười hai cây cọ xuống dòng Cái Rơn. Bả khom mình khỏa tay xuống nước. Rồi đưa lên úp vào mặt. Chiếc ghe cuối bả chấm mắt. Cái tên cô Tẻ chấm mắt ghe từ nay chỉ còn nằm trong ký ức của dân Cửu Long.
Trời đã bắt ngọn nắng đầu phủ lên Kiến An Cung một màu vàng tươi. Xứ này ai cũng biết ngôi chùa trăm tuổi được người Phúc Kiến chạy giặc từ Chợ Lớn xuống tới đây gá thân những năm hai mươi của thế kỷ trước xây nên. Từ đó họ sống quần tụ trên dòng Cái Rơn và lập nên một bến thuyền ghe mua bán tấp nập. Họ cho xây chùa theo tập quán của người mình để cầu mưa thuận gió hòa, để công việc làm ăn buôn bán phát đạt. Kiến An Cung tạo hình theo chữ Công, với ba gian nhà, không có kèo chỉ những đòn tay ráp mộng với nhau, chịu lực trên những cột gỗ tròn. Mái ngói ba lớp được lợp gợn lên như vảy rồng theo kiểu ngũ hành với mỗi đỉnh chớp là sáu cung điện chạm trổ tỉ mỉ. Nhà chính là Điện Kiến An với sân chầu lấy khí trời từ một vòm tròn rộng lớn mang tên Cửu Thiên Đài. Nắng gió từ trời dội xuống sân Thiên Tỉnh như một cách mà người xứ này cầu nguyện lẫn gột rửa những hư hao xui rủi hoặc tội lỗi đời mình. Lễ chính bái cũng được làm ở sân Thiên Tỉnh.
Lễ tạ theo nhịp trống giục giã vang rền. Người dân lại lao xao từ bến Tầm Dương chạy về sân Thiên Tỉnh. Giữa sân cô bóng dâng mâm theo lời ca cầu quốc thái dân an. Bóng rỗi là thứ mà tà lọt mê mẩn nhất trong những mùa cúng chùa, dựng đình, xây miễu xứ này. Cô bóng kỳ thực là đàn ông, nhưng khoác lên mình xiêm y lộng lẫy đính cườm, gắn bẹt lấp lánh. Đầu đội mâm vàng dâng lên thánh thần vọng lời thỉnh ân bằng những điệu múa xoay mâm hất lên không trung rồi hứng lại chỉ bằng đầu, có khi một tay, có khi dùng vai hoặc lưng mà hứng. Cô bóng càng giỏi là càng nhiều ngón nghề điêu luyện. Cứ vậy, lễ tạ nối dài theo từng lần dâng hoa, dâng xôi, hay bất cứ thứ gì người dân đem đến phụng cúng. Có lễ cúng phải năm, ba cô bóng mới dâng hết lễ của bà con xóm giềng mang tới. Cứ vậy trong tiếng trống đờn thùng thình réo rắt là lời ca vang rền, cùng những vũ điệu uyển chuyển mê hoặc. Tà lọt mắt không rời lễ cúng. Quên luôn sớm nay trên đường đi ngoại dặn coi chấm mắt ghe xong là phải vào sau bếp phụ ngoại ra bánh củ co để đãi mời người đến cúng lễ.
7.
Sẫm tối, trăng chưa rằm nên còn vắt nửa mảnh ngang thinh không đen tuyền. Dòng Cái Rơn lặng con nước. Bến Tầm Dương có bốn người ngồi. Má út Trong nhẩm tính, từ ngày ông tóc bạc bỏ xứ theo chiếc thuyền nhỏ cùng gia đình cũng hơn nửa đời người. Giờ quay lại mọi thứ đã thay đổi. “Ông thấy không, giờ Châu Long Sa đâu còn nữa, người ta gom Nam Bắc Cao Lãnh về chung một tỉnh gọi là Đồng Tháp. Hồi cha ông tập kết rồi hy sinh, cho đến lúc giải phóng thì lữ quán An Thành cũng dẹp luôn. Cái chợ đèn dầu cũng mới khôi phục lại sau quãng năm chín mươi dỡ bỏ. Ông à, đời con người ta khôn dại đôi khi chỉ một lần. Hồi đó anh em đồng đội khuyên ông biết bao nhiêu. Ông lại chọn cách ra đi. Giờ ông về cũng chỉ là mớ ký ức xưa cũ chấp nối trên những đổi thay. Con người ta luôn nhìn ngày mai mà sống.
Tỷ như cái chân của ông sáu Chàm mất đi trong lần địch chống cự hồi mùa chướng bảy tư, làm sao lấy lại. Có chăng con người ta phải sống bằng chính sự chấp nhận cả vui buồn của phận số mình. Ổng cũng chiến đấu, cũng thương binh, cũng nghèo nhưng đâu bao giờ bỏ xứ. Tụi mình có đứa chiến đấu, có đứa nằm trong lòng địch để đưa tin, có đứa núp bóng Kiến An Cung để che giấu bộ đội để làm gì? Tất cả cũng chỉ cầu mong cho xứ mình không còn bom đạn. Người ta đợi cả đời để được sống thanh bình, ông đợi có vài năm lại nản chí. Nhưng, tụi mình giờ già rồi, nhắc mấy cái đó đâu để làm gì. Còn gặp lại, còn thấy đủ đầy những đứa đã từng núp trong cái sân Thiên Tỉnh mà ngửa mặt cầu trời cho qua trận bố ráp ngày đó, nói thiệt đã là phước ân tổ tiên.”
Ông tóc bạc, người anh cả của nhóm giao liên ngày ấy, bỗng gục đầu khóc nức nở. Sân Thiên Tỉnh của những năm bảy tư đã như một chỗ ẩn náu an toàn nhất của bộ đội mình. Kiến An Cung của hội Phúc Kiến chí ít cũng khiến đám quân ác ôn của khu bốn kiêng dè. Chúng nể cái sự giao thương làm chủ kinh tế vùng của người Hoa xứ này mà né ra. Hồi đó ba của cha già Cái Rơn đã ký giấy không chứa Việt Cộng. Ký ban ngày, nhưng ban đêm ổng đào hầm dưới cái sân Thiên Tỉnh để giấu cán bộ. Ổng nói đất này phong thủy. Tụi nó có tới cũng bị trời che mắt, đất ôm cán bộ vào lòng. Tin ổng đi.
Ai cũng tin. Nhưng đám giặc không tin. Chúng lùng nát Kiến An Cung nhưng tuyệt nhiên không dám đập phá. Chí ít chúng còn sợ chốn tôn nghiêm này. Cứ vậy Kiến An Cung như một nơi tuyệt đối an toàn cho quân ta. Mãi sau này, khi hỏi sao ổng tin là giấu được cán bộ. Ổng cười khề khà, “ngộ nói chắc mọi người hết hồn. Ai tin là người Hoa sẽ giấu cán bộ, người Hoa sẽ làm cách mạng? Thời đó ai cũng nghĩ người Hoa đứng bên ngoài tất cả. Nhưng, người Hoa làm ăn thắng là nhờ nhìn xa trông rộng. Đấy ngộ tin vào chính cái nhìn thời cuộc của ngộ. Có hòa bình mình mới mần ăn được mấy lị ơi.”
Câu chuyện nối dài câu chuyện. Ký ức nối liền ký ức. Có tiếc nuối của người ra đi. Có lòng bằng an của người ở lại. Nhưng, tất thảy cũng đã là xưa xa. “Gần năm mươi năm đất này thôi bom đạn, mắc gì mình giày xéo lòng nhau để thêm mòn mỏi những tháng ngày cuối đời của mình. Thôi uống cái đi. Rượu Hoàng Hoa uống trên bến Tầm Dương. Trời ơi nhớ cái thời tụi mình còn trẻ quá mấy lị ơi.” Giọng ông Cái Rơn ấm cả sương đêm.
8.
Có một điều mà không ai kể cho mấy người lớn nghe. Đêm đó, ngay giữa sân Thiên Tỉnh, có hai thằng con trai cũng cạn chén Hoàng Hoa rồi bật ngửa người nhìn lên Cửu Thiên Đài. Đêm rọi xuống giữa sân một vùng tối mờ ảo. Lần đầu tiên tà lọt thấy anh út Trong múa mâm trong xiêm y lộng lẫy mà nó mê mẩn. Nó nói lúc đó anh đẹp quá chừng. Em tưởng anh là thần tiên bay từ trên trời xuống giữa sân mà dâng lễ. Anh đẹp… đẹp hệt như… Trong cơn chếnh choáng nó nhớ gương mặt anh như tấm hình ông tóc bạc hồi trẻ chụp ở cái nơi ổng gọi là Châu Long Sa. Nhưng nó kịp im bặt. Nó nói anh đẹp như sao trên trời vậy đó.
Ờ mà đẹp cũng như má nó. Ngoại giấu nhưng nó lục từ trong đáy cái hộp thiếc cũ rích của ngoại ra một tấm hình chụp ngoại đứng cạnh bên, má ẵm ngửa nó trên tay. Phía sau tấm hình ngoại ghi kỷ niệm một năm nào đó trước lúc má nó đi. Nó không dám hỏi má nó đi đâu, tại sao không về. Nhưng nó tin, chí ít, một ngày nào đó má nó sẽ về. Như ông tóc bạc cuối phần đời thèm quê xứ cũng lọ mọ về đây. Con người ta cũng như lá. Lá non rồi lá xanh. Lá già thì vàng. Lá héo tàn thì rụng xuống gốc cây. Mục nát thì tự mình hòa lẫn với đất. Thứ không bao giờ rời bỏ mình chỉ có đất mà thôi.
Út Trong quay qua nhìn cái mặt say rượu đỏ lừ của thằng nhóc chạy chợ mà cười. Ai nói nó khùng. Nó tỉnh hay say cũng toàn nói lý. Đêm châu thổ mùa này chướng se sẽ. Trong cơn ngủ mê giữa sân Thiên Tỉnh, thằng tà lọt thấy nó cưỡi những con rồng bay tận lên trời hái sao. Sao này hình gương mặt má. Sao kia hình ông ngoại nó. Sao này là bà chủ sạp. Sao bên phải là hình củ co. Sao bên trái là anh út Trong. Sao ông tóc bạc ở phía xa. Sao cha già Cái Rơn thì kế bên sao bà chấm mắt ghe. À có ngôi sao mới mang gương mặt của ông thầy dạy nghề sửa xe gắn máy mà nó đang theo học theo lời dặn của anh út Trong. Sao quá trời sao. Sao theo nó rơi giữa sân Thiên Tỉnh. Nó ôm sao vào lòng. Nghe đời mình ấm hơi châu thổ.
Tống Phước Bảo
Nguồn: https://www.tapchisonglam.vn/nguoi-ke-chuyen-chau-tho/






